5 (100%) 1 vote

Hai năm sau khi Tổ chức Y tế Thế giới WHO tuyên bố về sự bùng phát dịch Zika, một đại dịch nghiêm trọng đe dọa sức khoẻ cộng đồng quốc tế, các nhà khoa học đã và đang đạt được tiến bộ nhất định trong việc phát triển vắc-xin chống lại căn bệnh này. Một số sản phẩm hứa hẹn hiện đang thử nghiệm giai đoạn II. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu, do vụ dịch diễn ra trong thời gian ngắn đã khiến cho việc thử nghiệm vắc-xin trên quy mô lớn trở nên khó khăn và một số chương trình nghiên cứu đã bị cắt giảm. Hãy cùng xem chúng ta đã chuẩn bị được những gì để đối phó với căn bệnh nguy hiểm với sức khỏe nhân loại này.

Lịch sử phát triển bệnh do virus Zika

Năm 2015, một căn bệnh hiếm gặp, ít được biết đến đã đột ngột bùng lên ở vùng đông bắc Brazil. Căn bệnh này có ít các triệu chứng nhận diện: phát ban da, sốt và nhức đầu, nên phải mất vài tháng để các cơ quan y tế công cộng xác định đó là siêu vi-rút Zika bí ẩn. Vi-rút Zika là một flavivirus, liên quan đến virus viêm não Nhật Bản, virus vàng da, xuất huyết và virus West Nile. Vi-rút Zika lần đầu tiên được xác định vào năm 1947 tại Uganda, một quốc gia ở Đông Phi, sau đó vi-rút này bị chìm vào quên lãng cho đến khi một ổ dịch lớn bùng phát vào năm 2007 trên đảo Yap ở Micronesia, phía Tây Thái Bình Dương. Nhưng thảm họa thực sự bắt đầu khi những ca nhiễm vi-rút đầu tiên được ghi nhận ở Braxin vào năm 2015, ngay sau đó vi-rút đã lây lan nhanh chóng. Trong chỉ chưa đầy một năm, các ca nhiễm bệnh đã được ghi nhận trên khắp Nam Mỹ, Caribê và ở các khu vực Bắc Mỹ.

Các triệu chứng khi nhiễm vurus zika
Các triệu chứng cơ bản khi nhiễm vurus zika

Mọi chuyện càng trở nên phức tạp hơn sau đó. Mặc dù bệnh chủ yếu lây truyền qua muỗi, nhưng bệnh vẫn nó có thể lây truyền qua đường tình dục, và từ mẹ sang con khi mang thai. Quan trọng hơn là các biến chứng y khoa bắt đầu gia tăng, nghiêm trọng hơn nhiều so với các triệu chứng ban đầu của bệnh. Brazil đã bắt đầu báo cáo sự gia tăng hội chứng Guillain-Barré – một rối loạn thần kinh, mà hệ thống miễn dịch của người bệnh tấn công các dây thần kinh ngoại biên – ở những người có tiền sử nhiễm Zika. Kèm theo sự gia tăng đáng kể về số trẻ sơ sinh bị thiếu máu não, mà các bác sĩ Brazil cho rằng có liên quan đến nhiễm Zika ở mẹ. Một nghiên cứu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) cho thấy khoảng 10% trẻ sinh ra từ phụ nữ mang thai nhiễm Zika có dị tật bẩm sinh.

dị tật trẻ em zika
Dị tật giảm kích thước hộp sọ ở trẻ em do mẹ nhiễm virus zika

Những khó khăn ban đầu trong phòng chống bệnh

Tiến sĩ Monika McArthur, nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm, Đại học Maryland, Baltimore, Hoa Kỳ cho rằng hiểu biết của chúng ta còn rất hạn hẹp về mối liên hệ giữa Zika và các biến chứng thần kinh này. Bà nói: “Chúng ta không thực sự biết được toàn bộ các hậu quả sau sinh đối với trẻ nhỏ khi người mẹ bị nhiễm Zika. Và chúng ta cũng không biết chính xác như thế nào và tại sao căn bệnh này có khả năng gây ra các triệu chứng về thần kinh ở người lớn.” Tính miễn dịch của Zika cũng không được hiểu rõ. Bà nói thêm: “Chúng ta vẫn chỉ mới bắt đầu nghiên cứu chi tiết về những phản ứng miễn dịch liên quan đến nhiễm trùng do Zika. Rất nhiều điều chúng ta biết mới chỉ dựa trên miễn dịch của virus dengue và các loại flavivirus khác”.

Zika Virus
Zika Virus

Những bệnh nhân bị nhiễm Zika sẽ phát triển các kháng thể chống lại vi-rút, và các nhà nghiên cứu tin rằng những kháng thể trung hòa này có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại vi-rút, nhưng chúng ta chưa biết nồng độ kháng thể cần có, hoặc các đáp ứng miễn dịch khác có liên quan thực sự gây ra sự bảo vệ. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng ghi nhận một phản ứng miễn dịch thích nghi khác, phản ứng tế bào T, nhưng chúng ta thậm chí còn biết ít hơn về điều đó. ”Các tế bào T hỗ trợ (Helper T cells) và các tế bào T tiêu diệt (killer T cells) có phản ứng với vi-rút Zaka và có thể liên quan đến cơ chế bảo vệ, nhưng vai trò chính xác của chúng vẫn còn chưa rõ ràng”, Tiến sĩ Monika McArthur cho biết. Sau khi đại dich bùng nổ, các nhà khoa học đã và đang đạt được tiến bộ nhất định trong việc phát triển vắc-xin chống lại căn bệnh này. Một số sản phẩm hứa hẹn hiện đang thử nghiệm giai đoạn II. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu, do vụ dịch diễn ra trong thời gian ngắn đã khiến cho việc thử nghiệm vắc-xin trên quy mô lớn trở nên khó khăn và một số chương trình nghiên cứu đã bị cắt giảm.

Ứng phó khẩn cấp

Vào đầu năm 2016, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã không thể làm ngơ trước sự bùng phát của dịch bệnh Zika và các biến chứng thần kinh liên quan của nó. Vào ngày 1 tháng 2 năm 2016, WHO tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp và đưa ra nỗ lực toàn cầu để điều phối việc phát triển vắc-xin và điều trị bệnh. Tiến sĩ Rick Bright, giám đốc Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Y sinh học Hoa Kỳ (BARDA), cho biết: cộng đồng khoa học không sẵn sàng tập trung vào một loại vi-rút như vậy, nhưng đã ứng phó với tốc độ đáng ngạc nhiên. Ông nói: “Đây là một loại vi-rút ít người biết đến, vì vậy ngay tại lúc cần thiết, chúng ta không có gì trong tay. Nhưng chúng ta đã có những tiến bộ đáng kinh ngạc để đạt được những thành tựu lớn trên con đường phát triển vắc-xin trong một thời gian ngắn.”

Zika Virus
Người nhiễm Zika chủ yếu ở các vùng muỗi có khả năng phát triển tốt

Giáo sư, Tiến sĩ Annelise Wilder-Smith, nhà nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trường Y khoa Lee Kong Chian, Singapore, chuyên gia tư vấn của Tổ chức Y tế Thế giới về vi-rút Zika cho biết, hiện có khoảng 45 sản phẩm vắc-xin Zika đang được phát triển trong danh mục của WHO. Hầu hết là ở giai đoạn phát triển tiền lâm sàng, với một số thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I, và một số ít đã đạt đến giai đoạn II. Các vắc-xin trong quá trình phát triển bao gồm toàn bộ chủng loại vắc-xin, từ vắc-xin vi-rút sống và bất hoạt truyền thống đến các vắc-xin đang được thử nghiệm nhiều hơn như DNA, mRNA và vắc-xin tiểu đơn vị protein. Tiến sĩ Rick Bright cho biết: “Chúng tôi muốn có một danh mục đầu tư đa dạng vì chúng tôi không biết loại phản ứng miễn dịch nào sẽ đem lại hiệu quả”. Hiện nay vắc-xin DNA và vắc-xin bất hoạt toàn phần là những loại đang ở giai đoạn phát triển xa nhất.

Tiến sĩ Annelise Wilder-Smith nhấn mạnh sự kỳ vọng vào các vắc-xin DNA và RNA. Bởi nếu chứng minh được hiệu quả, chúng có khả năng nhân rộng và triển khai nhanh chóng khi bùng nổ dịch. Vắc-xin DNA hoạt động bằng cách tạo ra một plasmid (là phân tử DNA mạch đôi dạng vòng) mã hoá các gen cho các protein bao quanh vi-rút. Ngay khi plasmid này đi vào hạt nhân của tế bào đích, hệ thống tự động tế bào sẽ bắt đầu tạo ra các protein vi-rút, sau đó phản ứng miễn dịch được tạo thành. Tiến sĩ Joseph Kim, giám đốc điều hành của Inovio Pharmaceuticals, trụ sở tại Pennsylvania, Hoa Kỳ, đang phát triển một loại vắc-xin DNA cho Zika, cho biết: Theo cơ chế nêu trên, “Các tế bào của cơ thể sẽ trở thành nhà máy sản xuất loại vắc-xin này.”

Các vắc-xin RNA hoạt động theo cùng một cơ chế với vắc-xin DNA, mặc dù RNA có thể bắt đầu tạo ra các protein vi-rút ngay khi nó đi vào tế bào, mà không cần phải xuyên qua lớp vỏ hạt nhân. Công ty Moderna Therapeutics ở Massachusetts đang phát triển hai loại vắc-xin RNA cho Zika, một trong số đó đang trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I. Vắc-xin DNA và RNA có một số lợi thế tiềm năng – trong đó phải kể đến đó là thời gian nghiên cứu rất nhanh. Quá trình này không yêu cầu truy cập vào vi-rút thực tế để thiết kế các protein tổng hợp, mà chỉ cần biết được trình tự vật chất di truyền của nó. Tiến sĩ Joseph Kim cho biết: “Thông tin di truyền thu thập được trong thực tế có thể được tải lên Cloud, và chúng tôi có thể bắt đầu chế tạo vắc-xin trong vòng vài ngày”. Được biết vắc-xin Zika của Inovio Pharmaceuticals đi từ ý tưởng đến sản phẩm thực đầu tiên có thể dùng trên người chỉ trong vòng bảy tháng. Tiến sĩ Joseph Kim tự hào rằng: đây là vắc-xin nhanh nhất đã được đưa vào sử dụng trong lịch sử. Công ty này đã công bố kết quả của đợt thử nghiệm phase I của vắc-xin này vào tháng 10 năm 2017, trong đó 100% người tham gia đã có phản ứng kháng thể cho vi-rút sau ba liều vắc-xin và đã bắt đầu chuyển sang các thử nghiệm phase II. Viện nghiên cứu dị ứng và bệnh truyền nhiễm quốc gia Hoa Kỳ (NIAID) cũng đang phát triển một loại vắc-xin DNA cho Zika, hiện đang trong các thử nghiệm pha II.

thay đổi trong lịch tiêm chủng vắc xin
Việc nghiên cứu vaccin là cực kì tốn kém về thời gian và tiền bạc

Tiến sĩ Joseph Kim bổ sung thêm là: Theo nguyên lý sản xuất, các loại vắc-xin DNA và RNA an toàn hơn so với các loại vắc-xin thông thường vì không có khả năng bị phơi nhiễm với bệnh, như trường hợp vắc-xin vi-rút sống hoặc bất hoạt. Và các loại vắc-xin DNA và RNA cũng không yêu cầu bất kỳ hóa chất, chất bảo quản hoặc thành phần bổ sung nào có nguy cơ gây ra một số ít vấn đề như với vắc-xin thông thường. Các loại vắc-xin truyền thống cũng cần phải được bảo quản ở nhiệt độ thấp nghiêm ngặt, một vấn đề gây đau đầu cho chuỗi cung ứng ở các khu vực có khí hậu nóng và các nước đang phát triển trong khi các loại vắc-xin DNA có thể được bảo quản trong tủ lạnh thông thường hoặc thậm chí ở nhiệt độ phòng.

Nhưng cũng còn các vấn đề tồn đọng: việc đưa plasmid vào tận sâu trong hạt nhân của tế bào đích yêu cầu thêm một bước nữa trong quá trình nghiên cứu vắc-xin. Inovio Pharmaceuticals sử dụng một công cụ giống như bút để tạo ra một xung điện nhẹ giúp mở các tế bào để DNA có thể vào bên trong trước khi tiêm vắc-xin – công nghệ này được gọi là electroporation. Điều này làm tăng chi phí của vắc-xin, mặc dù Tiến sĩ Joseph Kim hứa hẹn giá thành vắc-xin có thể được giảm nhẹ khi sản xuất đại trà. Một rào cản lớn hơn là thực tế đến nay, chưa có vắc-xin DNA hoặc RNA nào được chấp thuận để sử dụng trên người cho bất kỳ bệnh nào, làm cho các công ty và nhà quản lý thận trọng khi đề cập đến vấn đề công nghệ.

Đó là một trong những lý do khiến công ty dược phẩm Takeda, trụ sở ở Osaka, Nhật Bản lựa chọn phát triển loại vắc-xin bất hoạt. Tiến sĩ Gary Dubin, giám đốc văn phòng y tế toàn cầu thuộc đơn vị vắc xin của công ty Takeda cho biết: “Chúng tôi đã xem xét kỹ thuật nào phù hợp nhất cho vi-rút Zika. Để giải quyết một vấn đề đe dọa sức khoẻ cộng đồng cấp thiết, chúng tôi muốn sử dụng phương pháp có khả năng thành công cao nhất.” Tiến sĩ Gary Dubin tiết lộ: phương pháp tiếp cận toàn phần vi-rút Zika của Takeda là “tương đối đơn giản”, sử dụng công nghệ tương tự như công nghệ được sử dụng trong các loại vắc-xin flavivirus khác. Loại vi-rút này bị bất hoạt để không thể sao chép, nhưng vẫn tạo ra miễn dịch. Tiến sĩ Monika McArthur cho biết, ngoài việc dựa vào công nghệ đã được thiết lập và đáng tin cậy, một lợi thế của vắc-xin toàn phần vi-rút là chúng bao gồm tất cả các phần của vi-rút, không chỉ các protein bề mặt, vì vậy có thêm nhiều lựa chọn khi tạo ra các kháng thể. Nhưng mất nhiều thời gian để phát triển loại vắc-xin này. Vắcxin của công ty Takeda chỉ bắt đầu thử nghiệm phase I vào tháng 11 năm 2017, và một loại vắc-xin bất hoạt toàn phần khác của chính phủ Hoa Kỳ, do Viện nghiên cứu dị ứng và bệnh truyền nhiễm quốc gia Hoa Kỳ kết hợp với Bộ Quốc phòng tiến hành, chỉ đang chuẩn bị cho thử nghiệm pha II.

Những thách thức phía trước

Bên cạnh những thành công bước đầu đạt được, việc phát triển vi-rút Zika cũng gặp phải một số thách thức đặc biệt. Một trở ngại mà cả vắc-xin chống vi-rút dạng bất hoạt và vắc-xin dựa trên DNA hoặc RNA phải đối mặt là miễn dịch mà chúng tạo ra không tồn tại lâu dài. Chúng ta cần dùng nhiều liều và các hoạt chất bổ sung để có được một sự bảo vệ lý tưởng hơn. Tiến sĩ Mark Challberg, người phụ trách nghiên cứu flavivirus tại Viện nghiên cứu dị ứng và bệnh truyền nhiễm quốc gia Hoa Kỳ, cho biết: “Điều này không ảnh hưởng nhiều đến mục tiêu chính của vắc-xin trên diện rộng khi ở giữa đại dịch”, bởi hiệu quả bảo vệ tạm thời của vắc-xin đủ để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp, và dập dịch. Nhưng về lâu dài, chúng ta luôn muốn có một vắc-xin phòng ngừa bệnh tật từ giai đoạn sơ sinh và duy trì hiệu quả bảo vệ lâu dài về sau. Để có được miễn dịch lâu dài từ một liều duy nhất, giống như một số vắc-xin khác hiện nay, cần phải có một loại vắc-xin sống giảm độc lực (live attenuated vaccines). Tiến sĩ Monika McArthur phân tích: mâu thuẫn nằm ở chỗ chúng ta sẽ tiêm vào cơ thể người dạng vi-rút sống và có thể có khả năng sao chép. Mục tiêu dân số chính cho vắc-xin Zika trong đợt bùng phát dịch sẽ là phụ nữ mang thai, đối tượng này thậm chí còn phức tạp hơn. Vắc-xin sống, mặc dù có hiệu quả cao, nhưng cũng có nguy cơ các phản ứng phụ có thể gây hại cho thai nhi. Và mặc dù các vắc-xin bất hoạt vẫn thường được sử dụng cho phụ nữ mang thai mà không ghi nhận các rủi ro, nhưng các loại vắc-xin mới thường không được thử nghiệm ở phụ nữ có thai vì lo ngại về an toàn. Theo Tiến sĩ Mark Challberg: “Các vắc-xin có nền tảng không liên quan đến vi-rút sống sẽ tiềm năng hơn bởi vì việc sử dụng trên phụ nữ mang thai sẽ dễ dàng hơn.”

Mối quan hệ gần gũi giữa các flavivirus, chẳng hạn như vi-rút Zika và vi-rút dengue, cũng là thách thức lớn với các nhà khoa học. Các flavivirus đôi khi có thể phản ứng chéo. Ví dụ: nhiễm trùng gây ra bởi một trong bốn chủng sốt xuất huyết dengue, có thể là tiền đề cho một nhiễm trùng thứ cấp bởi một chủng khác nghiêm trọng hơn. Kháng thể sinh ra để miễn dịch chủng sốt xuất huyết ban đầu có thể không đủ hiệu lực để vô hiệu hóa tất cả các vi-rút, và vi-rút có khả năng thâm nhập vào tế bào một cách dễ dàng. Ngoài ra, tế bào T phản ứng quá mức, tạo ra quá nhiều cytokine gây phản ứng viêm nguy hiểm. Kết quả làm trầm trọng các triệu chứng của sốt xuất huyết dengue hơn. Tiến sĩ Monika McArthur cho biết: “Đã dấy lên các lo ngại rằng nhiễm vi-rút Zika có thể làm cho bệnh sốt xuất huyết nặng hơn, hoặc ngược lại.” Và vì vắc-xin tạo ra các kháng thể tương tự như nhiễm trùng, chúng có thể gây ra các phản ứng chéo giống nhau. Theo ghi nhận của Tiến sĩ Monika McArthur, hiện tại chưa có báo cáo về phản ứng chéo giữa Zika và dengue, hay các flavivirus khác, nhưng các công ty dược phẩm đang tiến hành thử nghiệm rất thận trọng. Tiến sĩ Gary Dubin đại diện hãng dược phẩm Takeda khẳng định: “Chúng tôi sẽ giám sát cẩn thận sự an toàn của vắc-xin trong quá trình nghiên cứu”, Đơn cử, thử nghiệm giai đoạn I của Takeda gồm 2 bước. Bước 1, vắc-xin sẽ được thử nghiệm về tính an toàn và tính miễn dịch ở những người không có flavivirus; sau đó, bước 2, vắc-xin sẽ được kiểm tra ở những người đã có nhiễm flavivirus trước đó.

Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng một trong những khó khăn lớn nhất mà các nhà nghiên cứu gặp phải khi đưa vắcxin Zika ra thị trường là sự bùng phát dịch bệnh chỉ trong thời gian ngắn. Vào tháng 11 năm 2016, WHO ra thông báo chấm dứt tình trạng khẩn cấp sức khoẻ cộng đồng, và số ca bệnh đã giảm đáng kể kể từ khi bùng phát. Đó là tin tốt lành cho người dân ở những khu vực bị ảnh hưởng, nhưng lại làm cho việc thử nghiệm vắc-xin mới trở nên khó khăn hơn nhiều. Theo Tiến sĩ Mark Challberg: “Bởi vì tỷ lệ mắc đang giảm nên sẽ rất khó để thực hiện một thử nghiệm pha III chứng minh tính hiệu quả.” Đơn giản là không có đủ số bệnh nhân để có được dữ liệu thống kê đầy đủ trong một khoảng thời gian hợp lý. Việc giảm số ca bệnh dẫn đến một số chương trình nghiên cứu phải dừng lại. Tháng 9 năm 2017, công ty dược phẩm Pháp Sanofi thông báo rằng sẽ không tiến hành thử nghiệm pha III của vắc-xin vi-rút Zika dạng bất hoạt của chính phủ Hoa Kỳ.

Tiến sĩ Rick Bright, giám đốc Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Y sinh học Hoa Kỳ cho rằng có một kế hoạch dự phòng để giải quyết sự sụt giảm đối tượng thử nghiệm ở người. Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các mô hình động vật để kiểm tra tính miễn dịch và đáp ứng miễn dịch của vắc-xin và được chấp thuận về mặt pháp lý theo cách đó, sau đó nghiên cứu có thể tiếp tục ở các giai đoạn quan trọng khi bệnh dịch bùng phát trở lại. Ông cho biết cách tiếp cận này đã được sử dụng trước đây đối với các bệnh được xem như mối đe dọa an ninh quốc gia như bệnh than và các chứng ngộ độc – những bệnh hiếm gặp đến mức không có cơ hội thử nghiệm phương pháp điều trị.

WHO vẫn đang lo ngại về việc sụt giảm đối tượng thử nghiệm sẽ làm giảm động lực phát triển vắc xin Zika, nhưng Giáo sư, Tiến sĩ Annelise Wilder-Smith cho rằng vẫn còn đủ sự chú ý và đầu tư vào vắc-xin Zika để đảm bảo có được những sản phẩm hiệu quả trên lâm sàng. Và chắc chắn nhân loại sẽ nhìn thấy sự khác biệt ở những đợt dịch tiếp theo. “Chúng ta vẫn cần “giữ lửa”, nhưng chúng ta không cần tới 45 loại vắc-xin. Chúng ta chỉ cần một số ít, nhưng hiệu quả “, bà nói. Bên cạnh đó, việc số lượng bệnh nhân mắc Zika giảm sút rõ rệt không hẳn là tín hiệu vui, bởi theo Tiến sĩ Joseph Kim: kinh nghiệm của các chuyên gia y tế toàn cầu cho biết, sự chững lại của vi-rút là dấu hiệu trước đợt bùng phát tiếp theo. Các nhà nghiên cứu không có thời gian để dừng lại và không được lơ là trong giai đoạn tăng tốc của chặng đường nghiên cứu này. Đây chính là thời điểm quan trọng nhất của “cuộc chiến”.

Thuốc điều trị Zika

Bên cạnh hướng nghiên cứu phát triển vắc-xin giúp phòng ngừa vi-rút Zika, một số nhóm nghiên cứu cũng đang tìm kiếm thuốc mới điều trị căn bệnh này. Phó giáo sư, nhà vi sinh vật học Brian Geiss, thuộc Đại học Bang Colorado, Fort Collins, Hoa Kỳ có kinh nghiệm 10 năm nghiên cứu flavivirus. Ông biết rằng việc phát triển thuốc mới là rất tốn kém và cần thời gian dài. “Vì vậy, tôi đã tự hỏi liệu có một thuốc nào đó có sẵn trên thị trường có hiệu quả với Zika?” ông nói.

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) gần đây đã chấp thuận một loại thuốc mới cho vi-rút viêm gan C flavivirus (HCV) là sofosbuvir. Sofosbuvir nhắm vào DNA polymerase của vi-rút để ngăn chặn sự sao chép, và Phó giáo sư Brian Geiss cho rằng: thuốc này có thể có hiệu quả trên cả 2 loại vi-rút bởi các polymerase trong HCV và Zika có liên quan chặt chẽ với nhau. Ông thử nghiệm sofosbuvir với một số chủng Zika từ khắp nơi trên thế giới trong nuôi cấy tế bào và ở chuột. Kết quả rất tốt, sofosbuvir giúp giảm nhiễm trùng mà không làm gia tăng số tế bào chết và bảo vệ chuột trong thí nghiệm khỏi các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm tính mạng. Thuốc sofosbuvir được biết là an toàn ở người và không ảnh hưởng đến thai nhi ở phụ nữ mang thai, vì vậy Phó giáo sư Brian Geiss tin rằng nó là một ứng viên tốt cho các thử nghiệm phase III ở người. Nhưng thuốc cũng có nhược điểm là khá tốn kém. Phó giáo sư Brian Geiss hy vọng chi phí sẽ được giảm xuống trước khi thử nghiệm lâm sàng cho kết quả khả quan.

Giống như Phó giáo sư Brian Geiss, nhóm nghiên cứu đứng đầu bởi Giáo sư, nhà sinh vật học phân tử Alysson Muotri, Đại học California, San Diego, Hoa Kỳ cũng nhận thấy tiềm năng của sofosbuvir trong điều trị Zika. Ông phát hiện ra rằng sofosbuvir giúp ngăn chặn sự lây truyền vi-rút từ mẹ sang con trong mô hình chuột. Nhóm của Giáo sư Alysson Muotri cũng đã tiến hành một cách tiếp cận rộng hơn để tìm kiếm phương pháp điều trị mới bằng cách bắt đầu kiểm tra một thư viện khổng lồ bao gồm 10.000 loại thuốc đã được chấp thuận một cách ngẫu nhiên. Ông cho biết: “Chúng tôi không có một chiến lược cụ thể, nhưng chính sự tình cờ đã đem lại hiệu quả.” Nhóm nghiên cứu nhanh chóng tìm thấy một ứng viên đầy hứa hẹn: chloroquine, một loại thuốc chống sốt rét. Ở chuột, chloroquine giúp sốnglâu hơn và giảm lượng vi-rút. Giáo sư Alysson Muotri chưa chứng minh được hiệu quả của chloroquine trên Zika. Nhưng ông cho biết: “Chúng tôi chỉ có thể nói được rằng, chloroquine có thể liên quan đến autophagy (một hệ thống phân hủy nội bào), vì chloroquine bảo vệ cơ chế này.” Một lợi thế lớn với chloroquine là chi phí thấp, vì vậy một hệ thống y tế công cộng có thể điều trị cả một quốc gia với một ngân sách nhỏ. Thêm vào đó chloroquine rất dễ quản lý. Vào những năm 1950, Brazil đã từng trộn lẫn chloroquine với muối để cung cấp cho khu vực Amazon, giúp ngăn ngừa bệnh sốt rét.

Phó giáo sư, Tiến sĩ, nhà sinh vật học phân tử Shelton Bradrick, thuộc Đại học Texas, Galveston, Hoa Kỳ cũng đã sàng lọc một thư viện nhỏ gồm khoảng 800 loại thuốc được FDA chấp thuận và tìm ra 20 ứng viên có khả năng điều trị Zika, bao gồm thuốc chống co giật như ivermectin và thuốc kháng sinh như daptomycin, có thể làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng trong nuôi cấy tế bào. Trước tình hình dịch Zika tạm thời lắng xuống, Phó giáo sư, Tiến sĩ Shelton Bradrick đang tiến hành thử nghiệm các ứng viên của mình trên các loại bệnh do flavivirus khác, như bệnh sốt vàng (yellow fever).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here