Rate this post

Vào năm 2015, Báo cáo sử dụng thuốc hàng năm của Châu Âu ghi nhận 330.445 trường hợp nguy cơ cao lạm dụng thuốc giảm đau opioid ở Anh, con số cao nhất ở Châu Âu. Theo Hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng nước này, tỷ lệ bệnh nhân trong “Dữ liệu liên kết nghiên cứu thực hành lâm sàng” đã được kê đơn opioid tăng gấp đôi trong giai đoạn 2000 và 2012, và khoảng thời gian kê đơn liên tục tăng từ 64 ngày lên mức cao nhất 102 ngày trong năm 2013 và 2014. Ngoài ra số liệu từ Cơ quan y tế quốc gia Anh (NHS) cho thấy: số bệnh nhân nhập viện vì dùng quá liều thuốc giảm đau opioid đã tăng gần gấp đôi trong giai đoạn 2005-2006 và 2016-2017.

Theo số liệu của của Văn phòng thống kê quốc gia Anh, năm 2016 ghi nhận 58 trường hợp tử vong liên quan đến fentanyl và 75 trường hợp tử vong liên quan đến oxycodone ở Anh và xứ Wales so với 34 và 51 trường hợp tử vong tương ứng được ghi nhận vào năm 2015. Số lượng ca tử vong liên quan đến tramadol đã giảm 12%: từ 208 ca tử vong trong năm 2015 còn 184 ca tử vong vào năm 2016, điều này đến từ sự kiện phân loại tramadol vào nhóm C trong Đạo luật sử dụng thuốc 1971 được cập nhật vào tháng 6 năm 2014.

Tại Hoa Kỳ, sau báo cáo tạm thời của Ủy ban chống lạm dụng thuốc và khủng hoảng opioid, mới đây tổng thống Donald Trump đã phải tuyên bố vấn nạn lạm dụng opioid ở nước này là “một trường hợp khẩn cấp về sức khoẻ cộng đồng”. Bởi các chuyên gia ước tính có 142 ca tử vong do opioid ở Hoa Kỳ mỗi ngày.

Đã có những lo ngại xung quanh câu hỏi: Liệu xu hướng lạm dụng opioid tại Anh có phát triển thành vấn nạn như đã xảy ra ở Hoa Kỳ? Nhưng nhiều chuyên gia Anh đã bác bỏ những nghi vấn này. Harry Shapiro, giám đốc DrugWise – kênh dịch vụ, thông tin thuốc trực tuyến uy tín tại Anh cho biết khả năng đó là thấp. Ông phân tích: “Tình trạng xảy ra tại Hoa Kỳ là rất nghiêm trọng. Trong một khoảng thời gian dài, người dân Hoa Kỳ rất chuộng opioid cho tới khi họ nhận ra rằng họ dùng thuốc giảm đau mạnh kê đơn cho cả các cơn đau thông thường thì vấn đề bắt đầu sảy ra.” “Hai nước có hệ thống y tế khác nhau. Tại Anh, các bác sĩ không được tác động để kê đơn opioid cho bệnh nhân.” Theo ông sự gia tăng sử dụng opioid ở Anh chỉ đơn giản phản ánh về mức độ đau đớn thực sự trên toàn bộ dân số và nhu cầu đối phó với các bệnh nan y chính đáng.

Nhận định về tình trạng lạm dụng opioid tại Anh, Tiến sĩ Barry Miller, Trưởng khoa thuốc giảm đau của Trường Hoàng gia Anh về gây mê, một chuyên gia về quản lý đau và gây mê cũng đồng tình về sự ổn định tương đối ở nước này. Ông chỉ ra rằng số trường hợp nhập viện do dùng quá liều opioid ở Anh đã ổn định trong vòng hai tới ba năm trở lại đây và con số kỷ lục ghi nhận được trong năm 2012 cho tới nay đã giảm đáng kể. Ông tin rằng kết quả này đến từ việc nâng cao nhận thức thông qua truyền thông và sự hỗ trợ giáo dục cho các bác sĩ, người trực tiếp đặt bút kê đơn opioid. Ngoài ra, các công ty dược phẩm lớn ít có tầm ảnh hưởng tới các chuyên gia y tế hay các quyết định mang tính chiến lược trong lĩnh vực y tế hơn so với Hoa Kỳ.

Đánh giá và giảm thiểu rủi ro

Tiến sĩ Barry Miller cho rằng một trong những nguyên nhân then chốt là sự thiếu hụt trong giáo dục tại các hệ thống chăm sóc sức khoẻ về sử dụng an toàn và hợp lý thuốc giảm đau. Ông nhận định: “Trong 20 năm qua, việc kê đơn opioid càng trở nên dễ dàng hơn”, “Opioid được xem như phương tiện hữu ích để giải quyết đau ngắn hạn và trung hạn, từ đó dẫn tới việc sử dụng thuốc lâu dài mà không có giá trị điều trị và kèm theo những phản ứng phụ đáng kể.”

Trong báo cáo “Lạm dụng thuốc kê đơn” của mình công bố năm 2015, Harry Shapiro cũng đã nhận định tình trạng này tại Anh chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ mặc dù đây là quốc gia mua bán và sử dụng opioid nhiều nhất Châu Âu. Thông qua những bằng chứng ông thu được trong giai đoạn này, khó có thể ước tính chính xác số người lạm dụng opioid tại Anh, có thể lên đến hàng chục ngàn cho tới gần một triệu người. Ông tin rằng, tình trạng này được giải thích bởi 2 nguyên nhân chính. Một là, bác sĩ và các chuyên gia y tế chưa được đào tạo đúng mức độ, và họ thiếu thời gian thực hiện đánh giá rủi ro về nguy cơ lạm dụng opioid của bệnh nhân trước khi tiến hành kê đơn thuốc. Một số đối tượng bệnh nhân nhất định dễ có nguy cơ lạm dụng thuốc chẳng hạn như: thiếu kinh tế, có vấn đề về tâm thần hay tiền sử lạm dụng thuốc. Hai là, sự theo dõi thường xuyên tình trạng bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị còn chưa đầy đủ.

Bên cạnh nguy cơ lạm dụng thuốc và những tác dụng phụ đi kèm, hiện có rất ít bằng chứng cho thấy opioid có hiệu quả đối với các loại đau kéo dài. Phó giáo sư, tiến sĩ, dược sĩ Roger Knaggs, bệnh viện đại học Nottingham, Anh cho biết: mặc dù opioid được xem là một trong những loại thuốc giảm đau có hiệu quả nhất đối với đau cấp tính hoặc đau vào giai đoạn cuối, hiện có rất ít các nghiên cứu lớn về hiệu quả của opioid trên các loại đau kéo dài: “Hầu hết các nghiên cứu đều có thời gian tương đối ngắn (3-4 tháng) và chỉ có hiệu quả khiêm tốn.”  “Không có nghiên cứu về liệu pháp opioid so với giả dược, cũng không có nghiên cứu liệu pháp opioid hay liệu pháp không dùng opioid đánh giá các kết cục lâu dài (> 1 năm) liên quan đến giảm đau, cải thiện chức năng, hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống “. “Ngoài ra còn có bằng chứng rõ ràng về sự gia tăng nguy cơ, đặc biệt ở liều cao”. Vì vậy, những nghiên cứu lớn hơn, với thời gian dài hơn là rất cần thiết.

Scotland cũng là một trong những điểm nóng về vấn nạn lạm dụng opioid tại châu Âu. Theo thống kê của National Records of Scotland, trong tổng số 867 ca tử vong do dùng thuốc vào năm 2016, 765 ca có liên quan đến opioid. Con số này trong năm 2015 là 606. David Liddell, Giám đốc điều hành Scottish Drugs Forum (Diễn đàn về Dược phẩm của Scotland) xác nhận tình trạng này: “Việc sử dụng thuốc giảm đau opioid và benzodiazepine vẫn luôn là vấn nạn tại Scotland.” “Điểm chung được tìm thấy ở các nhóm dân số là sự nghèo đói, thiếu giáo dục và việc làm”. Tháng 6 năm 2017, Hiệp hội Dược phẩm Scotland đã khuyến cáo buprenorphine đường uống dạng đông khô được sử dụng giới hạn trong mục đích cai nghiện opioid cho bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên nếu được sự đồng ý của bệnh nhân khi không đáp ứng với methadone. Đây là hy vọng cho các bệnh nhân hiện không có nhiều lựa chọn điều trị hỗ trợ.

Tiếp cận đúng cách

Theo tiến sĩ Barry Miller, không có các tiêu chuẩn lâm sàng cố định để hướng dẫn các bác sỹ kê đơn opioid. Khoa thuốc giảm đau của Trường Hoàng gia Anh, đơn vị chuyên môn chịu trách nhiệm đào tạo, đánh giá, thực hành và phát triển liên tục trong việc quản lý giảm đau ở Anh, đã kết hợp với Cơ quan y tế công cộng Anh (Public Health England) cùng nhau tạo ra nguồn tài nguyên về Nhận thức Opioid. Hiệp hội giảm đau Anh cũng có thông tin về sử dụng opioid, nhưng những hướng dẫn này còn hạn chế, từ năm 2013 tới nay, không có hướng dẫn cập nhật mới dựa trên bằng chứng lâm sàng từ Viện Y tế và Chăm sóc sức khỏe quốc gia Anh (NICE). Tuy vậy, nếu tiếp cận một cách đúng đắn về việc kê đơn thuốc và thường xuyên đánh giá kết quả điều trị, bệnh nhân hoàn toàn có thể dùng opioid trong thời gian dài, đồng thời tránh tình trạng lệ thuộc, lạm dụng hay gây nghiện.

Đồng tình với quan điểm này, Heather Wallace, chủ tịch hội đồng quản trị của tổ chức từ thiện Pain Concern, chuyên hỗ trợ các bệnh nhân chống lại những cơn đau cho biết: “Theo quan điểm của chúng tôi, opioid đang được lạm dụng quá mức.” “Tuy nhiên, nếu được kê đơn chính xác – bệnh nhân được đánh giá tình trạng trước khi kê đơn và được theo dõi tình hình sử dụng thường xuyên – thì chúng ta có thể kiểm soát được tình trạng này.” Theo bà, các nguyên tắc kê đơn cơ bản cần được thiết lập ngay từ đầu và các bác sĩ cần phải nâng cao nhận thức về vấn đề tự quản lý và vai trò của nó trong hỗ trợ các bệnh nhân đau mãn tính. “Điều trị đau là một quyền cơ bản của con người nhưng không có thuốc giảm đau cho chứng đau mãn tính –giảm đau khoảng 30% các trường hợp là một kết quả tốt từ opioid. Và thuốc giảm đau chỉ đạt hiệu quả nhất khi bệnh nhân được kết hợp với những liệu pháp khác trong quá trình quản lý cơn đau,” bà cho biết. Tiến sĩ Barry Miller cũng nhìn thấy được vấn đề này: các bệnh nhân khác nhau nhận được lợi ích từ opioid khác nhau. Không phủ nhận “Một số bệnh nhân nhận được nhiều lợi ích nhưng nhiều người khác hầu như không có lợi, nhưng không hiểu sao người ta vẫn miễn cưỡng khi ngừng sử dụng,” ông nói thêm.

Vai trò quan trọng của dược sĩ

Mọi nhân viên y tế đều có vai trò quan trọng trong tiến trình giải quyết khủng hoảng opioid, và dược sĩ là một phần không thể thiếu. Với vai trò chuyên gia giảm đau, dược sĩ Roger Knaggs dành phần lớn thời gian của mình để thảo luận về những lợi ích và tác hại của opioid với bệnh nhân. Ông giải thích: “Nhiều bệnh nhân không biết họ thu được lợi ích gì từ opioid hay các thuốc giảm đau khác, vì vậy, tôi khuyến khích giảm liều dần để đánh giá hiệu quả và sau đó xem xét ngừng thuốc.” Nếu không có sự cải thiện rõ rệt về giảm cường độ đau sau bốn đến sáu tuần dùng thuốc, nghĩa là opioid không mang lại lợi ích điều trị cho bệnh nhân. Trong trường hợp này, Roger Knaggs sẽ chuyển hướng điều trị và nhấn mạnh các chiến lược giảm đau khác chẳng hạn như duy trì hoạt động thể chất, luyện khả năng tập trung hoặc thiền định.

Tiến sĩ Barry Miller phân tích: “Các dược sĩ có kiến ​​thức chuyên môn về các loại thuốc đang được kê đơn, họ có thể nhận định về sự thích hợp của phối hợp thuốc được chỉ định hay khoảng thời gian sử dụng thuốc được khuyến cáo. Từ đó, họ có thể thảo luận trực tiếp với bác sĩ kê đơn về tính đúng đắn của đơn thuốc. Trong rất nhiều trường hợp, tôi tin rằng họ đã nghi ngờ đúng và các thuốc opioid trong đơn nên được hạn chế hoặc dừng lại.”

Trong tài nguyên về Nhận thức Opioid, Khoa thuốc giảm đau của Trường Hoàng gia Anh nhấn mạnh rằng các dược sĩ nên tiếp cận một cách chủ động để hỗ trợ việc kê đơn thuốc opioid an toàn cũng như đảm bảo rằng các thuốc giảm đau có sẵn tại nhà thuốc có chứa codeine hay dihydrocodeine chỉ được sử dụng cho đau cấp tính trong thời gian ngắn; đảm bảo rằng liều kê theo thuốc phù hợp với từng bệnh nhân; và hỗ trợ giám sát hiệu quả, theo dõi khả năng dung nạp của opioid thông qua các đánh giá.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here