Rate this post

1. Bằng chứng đầu tiên về lợi ích làm giảm tỷ lệ tử vong của chất ức chế PCSK9

ODYSSEY – nghiên cứu ngẫu nhiên lớn thứ 2 (sau nghiên cứu FOURIER) đã cho thấy chất ức chế PCSK9 làm giảm LDL-C và các biến cố tim mạch, đồng thời cũng là bằng chứng đầu tiên về lợi ích làm giảm tỷ lệ tử vong của nhóm thuốc đắt tiền này, ít nhất là khi được dùng ở bệnh nhân sau hội chứng mạch vành cấp (ACS) có mức cholesterol cao mặc dù đã sử dụng  tatin liều tối đa.

Nghiên cứu ODYSSEY theo dõi gần 19.000 người trong khoảng thời gian trung bình 2,8 năm. Bệnh nhân được tiêm alirocumab 75 mg hoặc 150 mg mỗi 2 tuần đã giảm 15% (RR) về tiêu chí chính của nghiên cứu so với giả dược bao gồm khoảng thời gian đến khi xảy ra biến cố tử vong do bệnh tim mạch vành đầu tiên, nhồi máu cơ tim (NMCT) không gây tử vong, đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc nhập viện do đau thắt ngực (ĐTN) không ổn định.

Kết quả

Nguy cơ tuyệt đối đối với tử vong do mọi nguyên nhân ở mỗi nhóm:

    • 3,5% ở nhóm alirocumab
    • 4,1% ở nhóm chứng
  • Tỷ lệ tử vong do tim mạch có khuynh hướng giảm không có ý nghĩa ở nhóm dùng alirocumab (2,5% vs 2,9%; HR, 0.88; 95% CI, 0.74 – 1.05, log-rank P=.15).

Về hồ sơ an toàn:

  • Tỷ lệ biến cố có xu hướng giảm ở nhóm alirocumab đối với đột quỵ do chảy máu (9 so với 16 biến cố), đái tháo đường mới khởi phát (648 so với 676 biến cố) và các rối loạn nhận thức thần kinh (143 so với 167 biến cố).
  • Tỷ lệ biến cố tim mạch có hại nghiêm trọng ở nhóm alirocumab cũng đạt mức 9,5% so với 11,1% ở nhóm giả dược.
  • Điểm cần chú ý duy nhất là các phản ứng tại nơi tiêm ở nhóm alirocumab nhiều hơn so với giả dược (3,8% so với 2,1%).

Các phân tích hậu kiểm cho thấy lợi ích lớn nhất là ở các bệnh nhân mắc ACS có mức LDL-C nền ít nhất 100mg/dL. Nhóm này giảm được nguy cơ tương đối xảy ra biến cố tim mạch đến 24% (nguy cơ tuyệt đối là 3,4%) và 29% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân (nguy cơ tuyệt đối là 1,7%).

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng lợi ích giảm 15% các biến cố tim mạch có hại nghiêm trọng (MACE) nằm trong phạm vi có thể đạt được bằng một số thuốc tiêu biểu khác (ví dụ: aspirin). Bên cạnh đó, ngay cả statin cũng không thể hiện khả năng làm giảm tỷ lệ tử vong ở giai đoạn sau ACS.

Tạm kết

Cần có thêm nhiều nghiên cứu dài hạn hơn như ORION-4 (dự định kéo dài trong khoảng 4-5 năm tới) để xác định thêm nhiều bằng chứng rõ ràng hơn về tỷ lệ tử vong do tim mạch. Tuy nhiên, kết quả giảm biến cố tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân trong nghiên cứu này là rất đáng lưu ý.

 

2. So sánh giữa ticagrelor và clopidogrel ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim ST chênh lên đã sử dụng liệu pháp ly giải fibrin

Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá tính an toàn ngắn hạn của ticagrelor khi so sánh với clopidogrel ở bệnh nhân NMCT-ST chênh lên đã sử dụng liệu pháp ly giải fibrin.

Nghiên cứu ngẫu nhiên, đa trung tâm, nhãn mở kết hợp với tiêu chí đánh giá mù trên 3.799 bệnh nhân (<75 tuổi) NMCT-ST chênh lên sử dụng liệu pháp ly giải fibrin ở 152 khu vực từ 10 quốc gia, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2015 đến 11/2017. Giới hạn trên xác định trước cho khả năng chảy máu không kém hơn có biên độ tuyệt đối là 1,0%.

  • Bệnh nhân dùng ngẫu nhiên ticagrelor (liều nạp 180 mg, sau đó dùng 90mg x 2 lần/ngày) hoặc clopidogrel (liều nạp từ 300 mg đến 600mg, sau đó dùng 75 mg/ngày). Bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên với khoảng thời gian sau khi sử dụng liệu pháp ly giải fibrin trung bình là 11,4 giờ và 90% đã được điều trị trước với clopidogrel.
  • Tiêu chí chính là tình trạng chảy máu nghiêm trọng do ly giải huyết khối ở bệnh nhân NMCT (TIMI) trong 30 ngày.

Kết quả:

  • Trong 30 ngày, tình trạng chảy máu nghiêm trọng theo TIMI đã xảy ra trên 14/1.913 bệnh nhân (0,73%) dùng ticagrelor và 13/1.886 bệnh nhân (0,69%) dùng clopidogrel (khác biệt tuyệt đối là 0,04%; 95% CI, -0,49% đến 0,58%; P < 0,001 cho tính không kém hơn).
  • Tỷ lệ tử vong và chảy máu nội sọ tương đương giữa nhóm ticagrelor và clopidogrel.
  • So với clopidogrel, xuất huyết nhẹ và ít gặp hơn ở nhóm ticagrelor. Tình trạng tử vong do tổng hợp các nguyên nhân: mạch máu, NMCT hoặc đột quỵ xảy ra ở 76 bệnh nhân (4,0%) dùng ticagrelor và 82 bệnh nhân (4,3%) dùng clopidogrel.

Tạm kết

Ở những bệnh nhân <75 tuổi có NMCT-ST chênh lên, việc sử dụng ticagrelor muộn sau khi sử dụng liệu pháp làm ly giải fibrin không thua kém clopidogrel đối với tình trạng chảy máu nghiêm trọng theo TIMI trong vòng 30 ngày.

 

3. Việc sử dụng liều nạp atorvastatin sớm chu phẫu ở bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp không mang lại thêm lợi ích

Mặc dù lợi ích của statin trên bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp (ACS) đã được công nhận nhưng thời điểm sử dụng statin tối ưu và tác động của việc sử dụng liều nạp statin sớm chu phẫu vẫn chưa được xác định.

Để kiểm tra tác động của liệu pháp này, các nhà nghiên cứu lựa chọn ngẫu nhiên 4191 bệnh nhân mắc ACS (tuổi trung bình là 62; 26% là nữ giới) và thực hiện can thiệp mạch vành qua da (PCI), kết hợp với liều nạp atorvastatin 80mg trước và 24 giờ sau PCI hoặc kết hợp với giả dược. Kể từ 24 giờ sau liều nạp thứ 2, tất cả bệnh nhân sử dụng atorvastatin 40 mg mỗi ngày trong 30 ngày.

Có 65% bệnh nhân được tiến hành PCI, 8% phẫu thuật bắc cầu động mạch vành và 27% chỉ áp dụng các biện pháp chăm sóc y tế thông thường.

Kết quả tổng hợp ban đầu cho thấy có sự tương đương: 6,2% bệnh nhân nhóm atorvastatin và 7,1% bệnh nhân nhóm giả dược mắc biến cố tim mạch có hại nghiêm trọng (MACE) (tử vong do mọi nguyên nhân, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và rối loạn tái tưới máu mạch vành).

Mặc dù liều nạp statin không làm giảm MACE dựa trên phân tích theo đề cương nghiên cứu (intention-to-treat), nhưng biện pháp này làm giảm đáng kể các biến cố MACE ở bệnh nhân được tiến hành PCI.

Tạm kết

Mặc dù nhìn chung, không có lợi ích thêm từ việc sử dụng liều nạp atorvastatin sớm chu phẫu, nhưng cũng chưa ghi nhận tác động có hại. Chưa có bệnh nhân nào sử dụng liều nạp atorvastatin trong nghiên cứu mắc chứng ly giải cơ vân, cho thấy tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp này.

4. Thuốc phối hợp hoạt chất liều thấp có hiệu lực giảm huyết áp mạnh hơn biện pháp chăm sóc thông thường

Chiến lược kiểm soát tăng huyết áp truyền thống là điều trị từng bước, điều này thường tốn thời gian, chi phí và thường thất bại trong kiểm soát tăng huyết áp. Nghiên cứu TRIUMPH thực hiện nhằm đánh giá hiệu lực, hiệu quả kinh tế của biện pháp sử dụng thuốc phối hợp ba hoạt chất (tripple pill) so với biện pháp chăm sóc thông thường trong kiểm soát tăng huyết áp.

Nghiên cứu TRIUMPH được tiến hành ở Sri Lanka, gồm 700 bệnh nhân có tuổi trung bình là 56, huyết áp tại thời điểm tham gia là 154/90 mm Hg và 59% bệnh nhân chưa được điều trị tăng huyết áp.

  • Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm sử dụng biện pháp chăm sóc thông thường (bác sĩ sẽ lựa chọn các thuốc điều trị) và nhóm sử dụng phối hợp “thuốc bộ ba” chứa telmisartan (20 mg), amlodipin (2,5 mg) và chlorthalidon (12,5 mg).
  • Tiêu chí chính của thử nghiệm là đánh giá tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp ≤140/90 mm Hg (≤130/80 mm Hg ở bệnh nhân đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn) sau 6 tháng.

Kết quả từ thử nghiệm TRIUMPH cho thấy viên phối hợp 3 hoạt chất có khả năng làm giảm huyết áp nhanh hơn, hiệu lực tốt hơn và làm tăng số bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu mà không làm tăng tác động có hại so với biện pháp chăm sóc thông thường.

  • Sau 6 tuần, 68% bệnh nhân dùng “thuốc bộ ba” đạt huyết áp trong khoảng mục tiêu, mức giảm huyết áp trung bình là 8,7 mm Hg so với tỷ lệ 44% và mức giảm 4,5 mm Hg ở nhóm dùng biện pháp chăm sóc thông thường.
  • Sau 6 tháng, 83% bệnh nhân trong nhóm sử dụng “thuốc bộ ba” vẫn tuân thủ điều trị trong khi chỉ có 1/3 bệnh nhân trong nhóm được chăm sóc thông thường còn dùng ít nhất 2 thuốc hạ huyết áp.
  • Thuốc phối 3 hoạt chất được dung nạp tốt, không có sự khác biệt có ý nghĩa nào về tác động có hại hoặc ngừng thuốc do tác động có hại so với phương pháp chăm sóc thông thường.

Tạm kết

TRIUMPH là nghiên cứu quy mô lớn đầu tiên chứng minh giả thuyết phối hợp 3 thuốc trị huyết áp liều thấp có thể giúp kiểm soát huyết áp tốt hơn. Hiện nay các nhà nghiên cứu đang tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của biện pháp này để đáp ứng nhu cầu ở những quốc gia có thu nhập trung bình và thấp.

5. Sử dụng thuốc chẹn beta chu phẫu làm giảm nhồi máu cơ tim nhưng tăng nguy cơ tử vong

Thử nghiệm POISE cho thấy sử dụng thuốc chẹn beta (BB) chu phẫu bảo vệ bệnh nhân khỏi nguy cơ nhồi máu cơ tim (NMCT) nhưng có liên quan đến nguy cơ tử vong và đột quỵ sau 1 năm.

Trong nghiên cứu mù:

  • Sử dụng ngẫu nhiên BB (1) hoặc giả dược (2) trên 8351 bệnh nhân trải qua phẫu thuật ngoài tim.
  • Nhóm (1) sử dụng BB 100mg từ 2-4 giờ trước và 6 giờ sau phẫu thuật. Bắt đầu từ ngày thứ 1 sau phẫu thuật, nhóm này sử dụng BB 200 mg/ngày trong 30 ngày. Bệnh nhân hạ huyết áp hoặc nhịp tim chậm chỉ sử dụng nửa liều.

Kết quả cho thấy 1 năm sau phẫu thuật:

  • Nhóm sử dụng metoprolol (XR) có tỷ lệ NMCT là 5% so với 6% ở nhóm giả dược (HR 0,78; 95% CI 0,65-0,94).
  • Tỷ lệ bệnh nhân nhận được lợi ích tái tưới máu tim là 1% ở cả 2 nhóm (HR 0,47; 95% CI 0,28-0,78).

Tuy nhiên, báo cáo về tử vong do mọi nguyên nhân:

  • Tăng ở nhóm metoprolol (10% so với 9%, HR 1,16; 95% CI 1,01-1,34), đặc biệt là tử vong không do nguyên nhân tim mạch (6% so với 5%, HR 1,22; 95% CI 1,01-1,48).
  • Tỷ lệ đột quỵ là 2% so với 1% (HR 1,52; 95% CI 1,09-2,12).
  • Tỷ lệ ngưng tim hoặc thuyên tắc phổi tương đương ở 2 nhóm.

Các kết quả từ POISE cho thấy cứ mỗi 1000 bệnh nhân phẫu thuật ngoài tim thì metoprolol phòng ngừa 12 bệnh nhân khỏi NMCT và giúp 6 bệnh nhân tái tưới máu tim sau 1 năm, tuy nhiên đi kèm với đó là 13 ca tử vong và 6 ca đột quỵ.

Tạm kết

Giảm nguy cơ NMCT chu phẫu là do BB sẽ bù lại sự gia tăng catecholamine trong khi phẫu thuật, tuy nhiên đi kèm là nguy cơ đột quỵ và tử vong. Bên cạnh đó, cần tiến hành thêm các nghiên cứu theo dõi huyết động chu phẫu của bệnh nhân để ngăn ngừa tác động có hại do liều BB quá lớn.

6. So sánh nguy cơ tim mạch giữa febuxostat và allopurinol

Những người mắc bệnh gout có nguy cơ gia tăng mắc các bệnh tim mạch (BTM). Febuxostat được chứng minh hiệu quả hơn allopurinol trong việc giảm nồng độ acid uric. FDA đã yêu cầu tiến hành thử nghiệm so sánh tính an toàn đối với tim mạch của hai thuốc.

Thử nghiệm CARES tiến hành ngẫu nhiên trên 6190 bệnh nhân mắc gout kèm BTM ở Bắc Mĩ, sử dụng febuxostat hoặc allopurinol trong thời gian trung bình 2 năm.

Trong trung bình 32 tháng theo dõi:

  • Tỷ lệ các tiêu chí gộp chính (thời điểm xuất hiện ca tử vong do tim mạch đầu tiên, NMCT không tử vong, đột quỵ không tử vong hoặc tái tưới máu khẩn cấp trong đau thắt ngực không ổn định) tương đương nhau: febuxostat (10,8%) và allopurinol (10.4%).
  • Nhóm bệnh nhân sử dụng febuxostat có tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn (7.8% so với 6.4%) và tỷ lệ tử vong liên quan đến tim mạch cao hơn (4.3% so với 3.2%) có ý nghĩa.

Kết quả nghiên cứu cũng tập trung vào phân tích giai đoạn sử dụng kèm các thuốc khác. Đối với tỷ lệ tử vong do tim mạch, ghi nhận được tương quan có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân có sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) và đặc biệt là không sử dụng aspirin liều thấp.

Tạm kết

Đối với bệnh nhân mắc kèm gout và BTM, cả 2 thuốc về tổng thể có tính an toàn tim mạch như nhau, tuy nhiên febuxostat được ghi nhận có liên quan đến nguy cơ lớn hơn của tử vong do mọi nguyên nhân và tử vong do tim mạch.

Mặc dù febuxostat hiệu quả hơn allopurinol trong làm giảm nồng độ acid uric, do các bất lợi về tính kinh tế và tỷ lệ tử vong, allopurinol vẫn là lựa chọn an toàn hơn. Febuxostat được khuyến cáo là phương án dự phòng ở bệnh nhân dị ứng hoặc điều trị không hiệu quả với allopurinol.

7. Rivaroxaban liều thấp kết hợp aspirin làm giảm nguy cơ do bệnh động mạch ngoại biên chi dưới

Nghiên cứu trên những bệnh nhân đã tham gia thử nghiệm COMPASS cho thấy liều thấp rivaroxaban kết hợp với aspirin làm giảm nguy cơ do bệnh động mạch ngoại biên (PAD) chi dưới.

Trong thử nghiệm COMPASS trước đây, rivaroxaban (2,5 mg x 2 lần/ngày) kết hợp với aspirin đã cho thấy các lợi ích có ý nghĩa trên tim mạch (ngay cả sau biến cố chảy máu) ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành ổn định. Nghiên cứu lần này tập trung vào 6391 bệnh nhân tham gia COMPASS mắc PAD chi dưới, đặc biệt là biến cố nghiêm trọng ở chi (MALE) như thiếu máu cục bộ nghiêm trọng ở chi cần can thiệp hoặc cắt cụt mạch máu lớn.

Trong số những bệnh nhân tham gia, có 128 người (2%) đã mắc MALE trong khoảng thời gian trung bình 21 tháng theo dõi. Sau biến cố MALE, nguy cơ nhập viện trong vòng 1 năm lên đến 95,4%; nguy cơ cắt cụt mạch máu là 22,9%; tử vong là 8,7% và biến cố có hại nghiêm trọng trên tim mạch là 3,8%.

  • So với việc dùng đơn trị aspirin, rivaroxaban kết hợp aspirin làm giảm tương đối 43% tỷ lệ bệnh nhân gặp biến cố MALE, 58% trường hợp cắt cụt mạch máu, đồng thời làm giảm tương đối 24% tổng các can thiệp cũng như hậu quả trên mạch máu ngoại biên. Tất cả các kết quả này đều có ý nghĩa thống kê.

Tạm kết

Những bệnh nhân từng mắc MALE trong thử nghiệm COMPASS là một nhóm đặc biệt có nguy cơ cao: gần như tất cả đều nhập viện và 8,7% tử vong trong vòng một năm; vì vậy, những bệnh nhân này cần được dự phòng thứ phát chặt chẽ.

Việc kết hợp rivaroxaban liều thấp với aspirin làm giảm đáng kể nguy cơ xảy ra hậu quả có hại trên mạch máu ngoại biên cũng như các biến cố có hại nghiêm trọng trên tim mạch.

8. Giảm liệu pháp kháng tiểu cầu kép ở bệnh nhân ACS đang được PCI với stent phủ thuốc có liên quan đến gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim

Theo thử nghiệm SMART-DATE, việc giảm liệu pháp kháng tiểu cầu kép (DAPT) xuống 6 tháng ở những bệnh nhân có hội chứng mạch vành cấp (ACS) trong quá trình can thiệp mạch vành qua da (PCI) với stent phủ thuốc có liên quan đến gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim (NMCT).

Nghiên cứu tiến hành trên 2.712 bệnh nhân bị ACS trải qua PCI ở Hàn Quốc được chia ngẫu nhiên vào các nhóm: 6 tháng, 12 tháng hoặc dài hạn. Clopidogrel được sử dụng với vai trò là chất ức chế P2Y12 trên khoảng 80% bệnh nhân.

Kết quả nghiên cứu:

  • Tiêu chí chính của nghiên cứu là tỷ lệ gộp của tử vong do mọi nguyên nhân, NMCT hoặc đột quỵ trong 18 tháng xảy ra ở nhóm 6 tháng (4,7%) lớn hơn nhóm 12 tháng (4,2%).
  • Mặc dù tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân hoặc đột quỵ khác biệt không có ý nghĩa giữa 2 nhóm, NMCT xảy ra thường xuyên hơn ở nhóm 6 tháng (1,8%) so với nhóm 12 tháng hoặc nhóm dài hạn (0,8%).
  • Huyết khối trong stent xảy ra ở nhóm 6 tháng (1,1%) nhiều hơn so với nhóm 12 tháng hoặc nhóm dài hạn (0,7%).
  • Tỷ lệ chảy máu type 2-5 theo Tổ chức Nghiên cứu Hàn lâm về Chảy máu (BARC) là 2,7% ở nhóm 6 tháng và 3,9% ở nhóm 12 tháng hoặc nhóm dài hạn.

Trong một phân tích hậu kiểm điểm mốc, tiêu chí gộp của tử vong do mọi nguyên nhân, NMCT hoặc đột quỵ có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn ở nhóm DAPT 6 tháng so với nhóm 12 tháng hoặc lâu hơn (từ 6 tháng đến 18 tháng sau khi tiến hành PCI).

Nhiều nghiên cứu đang đánh giá cách tối ưu hóa liệu pháp DAPT, bao gồm thang điểm để phán đoán nguy cơ thiếu máu cục bộ và chảy máu ở những giai đoạn khác nhau của DAPT, định hướng điều trị bằng xét nghiệm chức năng tiểu cầu hoặc di truyền cũng như sử dụng kết hợp các liệu pháp kháng tiểu cầu và kháng đông khác nhau.

Tạm kết

Sau khi mắc hội chứng mạch vành cấp, DAPT tối thiểu 12 tháng nên được xem là hướng chăm sóc tiêu chuẩn, còn DAPT 6 tháng có thể phù hợp đối với những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu ban đầu cao hoặc chảy máu trong khi sử dụng DAPT.

 

9. Vai trò của canagliflozin đối với tình trạng suy tim ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Thử nghiệm CANVAS tiến hành trên 10.142 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và có nguy cơ tim mạch cao, được xếp ngẫu nhiên vào nhóm sử dụng canagliflozin hoặc giả dược và theo dõi trung bình trong khoảng 188 tuần.

  • Tiêu chí chính để đánh giá kết quả phân tích là tỷ lệ tử vong do tim mạch hoặc nhập viện do suy tim.

Những bệnh nhân có tiền sử suy tim từ thời điểm bắt đầu nghiên cứu (14,4%) thường là phụ nữ da trắng, tăng huyết áp và có tiền sử bệnh tim mạch sớm. Phần lớn những bệnh nhân này đã sử dụng thuốc ức chế hệ RAA, thuốc lợi tiểu và thuốc chẹn beta ngay từ đầu.

  • Bệnh nhân sử dụng canagliflozin có tỷ lệ tử vong do tim mạch, tử vong hoặc nhập viện do suy tim và nhập viện chỉ do suy tim thấp hơn so với nhóm dùng giả dược (16,3 vs 20,8 mỗi 1000 bệnh nhân/năm; [HR], 0.78; 95% [CI], 0.67-0.91).
  • So với những bệnh nhân không suy tim từ ban đầu thì những bệnh nhân có tiền sử suy tim nhận được lợi ích làm giảm biến cố nhập viện do suy tim hoặc tử vong do tim mạch cao hơn.
  • Hiệu quả của canagliflozin tương đương với giả dược về các tiêu chí trên tim mạch khác cũng như tiêu chí an toàn trên bệnh nhân có hoặc không có suy tim ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu (các giá trị P>0,130).
  • Tuy nhiên, canagliflozin có thể làm giảm tỷ lệ tuyệt đối của biến cố do sử dụng thuốc lợi tiểu thẩm thấu kèm tiền sử suy tim trước đây (P=0,03).

Tạm kết

Trên nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau mắc đái tháo đường týp 2 kèm theo tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, việc sử dụng canagliflozin giúp làm giảm tỷ lệ tử vong do tim mạch hoặc nhập viện do suy tim. Lợi ích thu được sẽ còn cao hơn ở nhóm bệnh nhân có tiền sử suy tim ngay từ ban đầu.

 

Tài liệu tham khảo
  1. Gregory G. Schwartz et al. The ODYSSEY OUTCOMES Trial: Topline Results Alirocumab in Patients After Acute Coronary Syndrome. J Am Coll Cardiol.
  2. Otavio Berwanger et al. Ticagrelor vs Clopidogrel After Fibrinolytic Therapy in Patients With ST-Elevation Myocardial Infarction-A Randomized Clinical Trial. JAMA 2018.
  3. Berwanger O et al. Effect of loading dose of atorvastatin prior to planned percutaneous coronary intervention on major adverse cardiovascular events in acute coronary syndrome. JAMA.
  4. Nicholls SJ and Psaltis PJ. Lipid lowering in acute coronary syndrome: Is treatment early enough?.
  5. American College of Cardiology. Low-dose ‘triple pill’ lowers blood pressure more than usual care: No increase in adverse effects seen with three-drug combo in one capsule.
  6. Salam A et al. TRIple pill vs Usual care Management for Patients with mild-to-moderate Hypertension (TRIUMPH): Study protocol. Am Heart J.
  7. J. Devereaux el at. 408-16-1-Year Outcomes of Perioperative Beta-blockade in Patients Undergoing Noncardioac Surgery. New England journal of Medicine Late-Breaking Clinical Trials.
  8. Devereaux PJ et al. The Perioperative Ischemic Evaluation (POISE) Trial: A Randomized controlled Trial of Metoprolol versus Placebo in Patients Undergoing Noncardiac Surgery. Am Heart J 08/2006
  9. White WB et al. Cardiovascular safety of febuxostat or allopurinol in patients with gout. N Engl J Med; [e-pub].
  10. Rivaroxaban, Aspirin, or Both in Stable Coronary Disease. Joel M. Gore, MD reviewing Eikelboom JW et al. N Engl J Med.
  11. Anand SS et al. Major adverse limb events in lower extremity peripheral artery disease: COMPASS trial. J Am Coll Cardiol.
  12. Hahn JY et al. 6-month versus 12-month or longer dual antiplatelet therapy after percutaneous coronary intervention in patients with acute coronary syndrome (SMART-DATE): a randomised, open-label, non-inferiority trial. Lancet. [Epub ahead of print].
  13. Karin Radhom et al. Canagliflozin and Heart Failure in Type II Diabetes Melitus: Results From CANVAS Program (Canagliflozin Cardiovascular Assessment Study).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here