5 (100%) 1 vote

Chế độ ăn

a. Mục đích ?

Chế độ ăn uống vẫn đóng một vai trò quan trọng và cần thiết để chữa trị đái tháo đường typ 2. Mục đích là điều chỉnh chứng tăng glucose huyết và glucose niệu, duy trì một thể trạng hợp lý và làm mất các triệu chứng chủ yếu (nhưng vẫn tránh tình trạng hạ glucose huyết dưới mức bình thường).

b. Thành phần dinh dưỡng?

Tinh bột và chất béo:

Lượng carbohydrat (chất bột) và chất béo đơn chưa bão hòa (ví dụ: dầu ô liu, dầu hướng dương dầu đậu nành, dầu mè, dầu đậu phụng.…) chiếm từ 60%- 70% năng lượng.

đái tháo đường
Ăn các carbs phức tạp hơn là các carbs đơn giản được khuyến khích cho người bệnh đái tháo đường

Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm như gạo, ngô, khoai sắn. Không nên dùng trực tiếp những loại thức ăn có thành phần đường hấp thu nhanh (đường đơn). Khi cần bổ sung chất đường, nên chọn các loại trái cây nhưng lượng trái cây cũng  phải vừa đủ, không nên lạm dụng

Hạn chế các loại chất béo bão hòa (mở động vật), các loại dầu ăn có nguồn gốc hóa học hay đã qua chiên xào rồi dùng lại.

Chất đạm

Chất đạm chiếm khoảng 15- 20% nhu cầu năng lượng. Nên dùng các loại đạm có nguồn gốc thực vật, các loại dầu, đậu hũ. Đối với đạm động vật thì nên ưu tiên ăn cá, trứng. Chỉ nên dùng thịt nạc (heo, bò, gà). Cá sông rất tốt cho người ĐTĐ là: cá lóc, cá rô, cá chạch, cá chốt, cá trê, cá bống, cá thác lác. Một số cá biển như: cá chim, cá thu, cá mực, tôm, cua, nghêu, ốc, hến đều có thể dùng.

Rau quả

Rau mồng tơi, cải bẹ trắng, rau dền cơm, dưa leo, mướp đắng, rau diếp, củ cải, xà-lách xoong, rau muống, cải bẹ xanh, bầu, bí, cần tây, cà chua. Một số rau quả khác cũng rất có ích cho người bị ĐTĐ như: đậu bắp, rau đay, bông súng, củ sắn nước, đậu hũ, đậu cô-ve, đậu xanh, giá sống, nấm đông cô, mộc nhĩ trắng, cà tím, các loại rau thơm, mè đen, tỏi, hành tây…

Trái cây

  • Nên ăn những loại trái cây có màu đậm. Trái cây có màu đậm thường có nhiều loại vitamin và chất khoáng cần thiết cho tim mạch và sức khỏe nói chung.
  • Bản thân chất đường, dù là đường trong trái cây hay đường mía đều làm tăng mức đường- huyết và tăng nồng độ các loại mỡ không tốt cho tim mạch (tăng triglycerid và giảm HDL- cholesterol) vì vậy nên dùng với lượng vừa phải (khoảng 10gam 1 suất trái cây: tương đương ½ quả táo, ½ quả lê, ½ quả cam, ½ quả ổi, 4 quả nho, 4 quả vải, 4 quả chôm chôm, 1 lát nho (1cm) đu đủ hoặc thơm, dưa hấu…). táo tây (1 trái), nho tươi (2 trái nhỏ), đu đủ chín (1/4 trái nhỏ), dứa (1/2 trái), chuối (1 trái), sa-pô-chê (1/2 trái)…
  • Chú ý không nên dùng nước ép trái cây, khi đó mất lượng chất xơ có trong trái cây, làm đường- huyết có thể tăng cao.
  • Khi đã ăn trái cây thì nên bớt lượng chất bột trong bữa ăn hàng ngày với liều lượng tương đương.
7 loại nước trái cây có hoạt tính sinh học và gây tương tác thuốc
Bệnh nhân đái tháo đường nên dùng trái cây vừa phải
  • Tuyệt đối không được ăn trái cây để thay các loại thực phẩm khác.
  • Một số trái cây tươi, ít ngọt sẽ cung cấp nhiều vitamin C và chất khoáng như: mận, điều, cam, quýt, bưởi, khế, mơ, dưa gang, dưa hấu.

Sữa và các loại sản phẩm từ sữa

 Bệnh nhân đái tháo đường typ 2 vẫn có thể uống được sữa và dùng các thực phẩm chế biến từ sữa. Tuy nhiên nên dùng những loại sữa không đường, ít béo (khoảng 200 ml/ ngày). Không nên hiểu nhầm sữa dành cho bệnh nhân đái tháo đường dùng để điều trị bệnh tiểu đường, tất cả các loại sữa này dùng thay thế khi bệnh nhân không ăn uống được. Nếu bệnh nhân ăn được dùng thêm sữa, vô tình làm tăng thêm tổng năng lượng trong ngày cho bệnh nhân, đường- huyết sẽ tăng cao.

  • Ăn một hũ yaourt không đường trước bữa ăn có thể làm giảm sự hấp thu chất bột đường và ít làm tăng đường- huyết sau ăn.
  • Nên bỏ hẳn thói quen uống sữa trước khi đi ngủ. Có thể uống sữa được vào buổi sáng (điểm tâm) hay buổi trưa.

Một số có thể dùng nhưng chỉ với số lượng ít như:

c. Bữa ăn

Nên ăn theo đúng bữa trong ngày (sáng, trưa, chiều). Không nên ăn nhiều bữa nhỏ hay ăn xế . Tránh việc bỏ bữa, sau đó ăn bù lại làm đường- huyết không ổn định.

d. Chế biến thế nào

  • Các loại rau trên nên dùng tươi sống.
  • Các loại thức ăn được chế biến bằng phương pháp luộc, hấp, tiềm, nấu canh thì chứa ít chất độc hơn các loại chế biến ở nhiệt độ cao như xào, chiên, đặc biệt là chiên dòn.
  • Không nên ăn trái cây khô, trái cây đóng hộp.
  • Nên ăn các thực phẩm được nấu tại nhà. Hạn chế tối đa việc ăn bên ngoài.
  • Nên ăn rau trước các bữa ăn. Nhai kỹ ít nhất 30 phút để thức ăn được hấp thu tốt hơn.
  • Một số loại thực phẩm đóng gói sẵn được quảng cáo “dành cho bệnh nhân đái tháo đường”. Phải xem kỹ thành phần và bảng năng lượng được in trên nhãn, cũng không nên tin tuyệt đối.

e. Lượng khẩu phần ăn

Lượng khẩu phần ăn trong một buổi theo quy tắc bàn tay (Jimbawe Hand Jive), dễ hiểu và dễ áp dụng:

  • Tinh bột (cơm, phở, hủ tiếu, bún, mì, bánh mì, ngô, khoai…): lượng khoảng 2 nắm đấm của bệnh nhân trong khẩu phần ăn.
  • Thành phần đạm (thịt, cá, tàu hủ…): lượng tương đương khoảng lòng bàn tay.
  • Chất béo (dầu ăn, mỡ, bơ, phô mai…) tương đương 1 đốt ngón tay cái.
  • Thành phần xơ (rau các loại): bệnh nhân ăn càng nhiều càng tốt, chú ý nên dùng rau trước các bữa ăn sẽ tốt hơn.

2. Chế độ vận động

a. Mục đích ?

Vận động hợp lý có thể giúp kiểm soát tốt đường huyết, giảm sự đề kháng với insulin, các biến chứng trên tim mạch.

Tập luyện ở mức độ nhẹ và trung bình như đạp xe đạp, đi bộ, bơi, tập dưỡng sinh, kéo dài 20-30 phút mỗi ngày, 2-3 lần mỗi tuần.

Tập thói quen vận động nhẹ nhàng sau bữa ăn giúp hạ đường huyết.

Vận động khi đường huyết quá cao hoặc quá thấp đều có thể gây nguy hiểm.

vận động tập thể dục
Chế độ luyện tập hợp lí là cần thiết

b. Một số lời khuyên để có chế độ tập luyện hợp lý

  • Trước khi bắt đầu thực hiện chế độ tập luyện cần được thăm khám cẩn thận để phát hiện các biến chứng, nhất là các biến chứng mạn tính của đái tháo đường typ 2. Chú ý khám tim mạch để phát hiện các bệnh nhân có thiếu máu cơ tim, đánh giá nguy cơ tăng huyết áp hoặc tụt huyết áp tư thế trong khi tập luyện.
  • Chọn lựa phương pháp tập luyện thích hợp: Nếu không có chống chỉ định gì thì người bệnh có thể tập bất cứ môn thể dục thể thao nào mà họ thích  nhưng phải phù hợp với tuổi tác và sức khỏe.  Đi bộ, đạp xe, bơi lội, dưỡng sinh… là những môn thể dục thích hợp với người đái tháo đường.
  • Khi tập luyện nếu cảm thấy mệt mỏi, run, tăng tiết mồ hôi, hồi hộp, đánh trống ngực, cảm giác đói, tê môi, tê đầu lưỡi, nhức đầu, nôn. Có nghĩa là bạn bị hạ đường huyết. Phải ngưng tập, uống 150ml nước trái cây hay ăn khẩu phần 15mg carbonhydrate (kẹo, bánh quy, cốc sữa…).  Sau đó, đến gặp bác sĩ nội tiết để được tư vấn một chương trình tập hiệu quả, an toàn.
  • Ðo đường máu nhiều lần, tốt nhất là cả trước, trong và sau khi tập
  • Ăn một bữa khoảng 1-3 tiếng trước khi tập hoặc tập sau bữa ăn 1-3 tiếng.. Tránh vận động lúc bụng đói.
  • Nên uống đủ nước trước, trong và sau khi tập
  • Nên  tập luyện cùng với bạn bè, người thân để được giúp đỡ khi cần thiết.  Ðiều quan trọng nhất là nên bắt đầu từ từ, sau đó mới tăng dần mức độ và thời gian tập luyện
  • Kiểm tra bàn chân hàng ngày và sau mỗi lần tập xem có bị các nốt phồng da, vết rách hoặc nhiễm trùng ở bàn chân không.
  • Không nên tập trong môi trường quá nóng hoặc quá lạnh. Chọn trang phục, giày dép phù hợp: Đúng kích cỡ, vừa chân, đi đứng thoải mái, êm nhẹ, che chắn, bảo vệ ngón và gót chân.
  • Bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng nên tập hạn chế.

c. Những trường hợp không nên tập

  • Đường huyết <70 mg/dl (<3,9 mmol/l).
  • Có ceton trong nước tiểu và đường huyết lớn hơn 250 mg/dl (13,9 mmol/l)
  • Không có ceton trong nước tiểu nhưng có đường huyết trên 300 mg/dl ở đái tháo đường tuýp 1 và trên 400mg/dl ở người đái tháo đường týp 2.
  • Khi nghỉ ngơi mà có cơn đau thắt ngực.

Tóm lại luyện tập thể lực, rèn luyện sức bền th­ường xuyên, với các bài tập hợp lý là vô cùng cần thiết trong điều trị đái tháo đường. Đây là một ph­ương pháp điều trị rất có giá trị và bổ sung đắc lực cho điều trị nội khoa. Để việc luyện tập đạt hiệu quả và an toàn (nhất là đối với những ng­ười đã có biến chứng hệ tim mạch, cao huyết áp), ng­ười bệnh cần đ­ược h­ướng dẫn cụ thể của bác sỹ chuyên khoa để có những hình thức tập luyện phù hợp và hạn chế những vận động quá mức.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here